Bài đăng

Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn)

Lý Thái Tổ (chữ Hán: 李太祖 8 tháng 3 năm 974 – 31 tháng 3 năm 1028) tên thật là Lý Công Uẩn (李公蘊) là vị hoàng đế sáng lập nhà Lý trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ năm 1009 đến khi qua đời vào năm 1028. Xuất thân là một võ quan cao cấp dưới triều Nhà Tiền Lê, năm 1009, nhân khi vị vua cuối cùng của nhà Tiền Lê là Lê Long Đĩnh qua đời, con trai còn nhỏ, Lý Công Uẩn cùng lực lượng của Đào Cam Mộc và Vạn Hạnh cướp ngôi và tự phong làm hoàng đế. Trong thời kỳ trị vì của mình, ông dành nhiều thời gian để đàn áp các cuộc nổi dậy, vì cơ bản nước Đại Cồ Việt vẫn chưa thu phục được lòng tin của dân. Triều đình trung ương dần được củng cố, các thế lực phiến quân bị đánh dẹp, kinh đô được dời từ Hoa Lư về thành Đại La vào tháng 7 năm 1010 và thành này được đổi tên thành Thăng Long, mở đầu cho sự phát triển lâu dài của nhà Lý tồn tại 216 năm. Thân thế Sách Đại Việt sử lược và Đại Việt sử ký toàn thư đều chép Lý Công Uẩn người ở Cổ Pháp, Bắc Ninh (nay thuộc thành phố Từ Sơn, Bắc Ninh), mẹ là Phạm Thị ...

Trần Nhân Tông

Trần Nhân Tông (chữ Hán: 陳仁宗, sinh ngày 7 tháng 12 năm 1258 – 16 tháng 12 năm 1308) tên khai sinh là Trần Khâm (陳昑), tự là Thanh Phúc , là vị hoàng đế thứ ba của nhà Trần nước Đại Việt. Ông trị vì từ ngày 8 tháng 11 năm 1278 đến ngày 16 tháng 4 năm 1293, sau đó làm Thái thượng hoàng cho đến khi qua đời. Trần Nhân Tông được sử Việt đánh giá là một vị Hoàng đế anh minh, đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển bền vững của Đại Việt cuối thế kỷ XIII, cũng như việc bảo vệ nền độc lập và mở rộng lãnh thổ đất nước. Ngoài ra, ông cũng là một thiền sư lớn của Phật giáo Việt Nam thời trung đại. Ông là 1 trong 14 vị anh hùng dân tộc Việt Nam. Ông có công to lớn trong công cuộc xoá "Dâm từ" tại Việt Nam. Là con trai trưởng của Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông đã được truyền ngôi vào tháng 11 năm 1278 – lúc ông chưa đầy 20 tuổi. Do nguy cơ trước sự lâm le của Nguyên Mông, sau khi lên ngôi Trần Nhân Tông đã triển khai nhiều biện pháp nhằm nâng cao sức mạnh kinh tế và ổn định chính trị – xã...

Lê Văn Chánh

          Ông Lê Văn Chánh sinh ngày 08/10/1911 tại làng Mỹ Trà, tổng Phong Thạnh, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay là xã Mỹ Trà, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp). Khi tham gia hoạt động cách mạng, để tránh sự truy bắt của địch, ông đã khai sinh năm 1914.         Từ 9 đến 16 tuổi, ông học trường Cao Lãnh (sơ học đến tiểu học) và được thầy giáo Sa thương yêu, tin cậy, bồi dưỡng ông về học vấn, hiểu biết về chính trị. Bấy giờ, thầy Sa giao ông làm liên lạc với các thầy Cảnh, Hạnh, Tòng và đồng chí Cương.         Tháng 6/1929, ông được kết nạp vào Đảng tại Chi bộ tổ Việt Nam Cách mạng Thanh niên xã Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc.         Tháng 6/1929, ông là Trưởng Ban cán sự phụ trách 2 tiểu tổ Việt Nam Cách mạng Thanh niên trường Cao Lãnh và Sa Đéc. Đến tháng 4 năm 1930, ông là Trưởng Cán sự Chi bộ xã Mỹ Trà và Cao Lãnh.         Tháng 7/1930, sau cuộc huy động quần chúng bi...

Trần Thị Thu (Kim Hồng)

          Bà Trần Thị Thu, bí danh Kim Hồng, sinh năm 1946, quê xã Hòa An, huyện Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay là thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp), tham gia cách mạng năm 1960. Khi hy sinh là Xã đội phó xã Hòa An, đảng viên Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam.          Sống trong gia đình yêu nước, tiếp xúc với cán bộ cách mạng, nên 14 tuổi, bà tình nguyện làm liên lạc, rải truyền đơn, dán khẩu hiệu, đào hầm bí mật nuôi chứa cán bộ.         Năm 1962, bà cùng bà con trong xóm đào hầm bí mật chứa hai trung đội địa phương quân tỉnh về ém quân, diệt gọn đại đội 10 bảo an của địch, ngày 27/10/1962. Đơn vị rút về căn cứ, giao lại số thương binh, Liệt sỹ cho địa phương, bà đưa anh em vào hầm bí mật, chờ tối chuyển về vùng giải phóng an toàn, chu đáo.          Một đêm tháng 4/1963, địch bao vây bắn chết một cán bộ ta tại nhà bà, địch  sợ ta đánh trả nên bỏ chạy, nhân cơ hội ấy, bà cùng mẹ chuyể...

Nguyễn Văn Phối

          Ông Nguyễn Văn Phối sinh năm 1916, quê thôn Mỹ Nghĩa, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay là xã Mỹ Ngãi, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp).         Sinh trưởng từ một gia đình nông dân có truyền thống yêu nước, cách mạng. Cha và chú đều tham gia hoạt động cách mạng trong những năm 30, đều bị thực dân Pháp bắt đày đi Côn Đảo, Châu Đốc. Ngay từ lúc thiếu thời, còn đi học ở Cao Lãnh, ông đã tích cực tham gia phong trào học sinh đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, nên bị đuổi học. Về xã, ông làm liên lạc cho Chi bộ Đảng.         Từ năm 1936 đến năm 1939, ông hăng hái tham gia phong trào Đông Dương Đại hội và được kết nạp vào Đảng Cộng sản năm 1939. Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, ông bị Pháp bắt giam ở nhà tù Bà Rá, đến tháng 3/1945, ông cùng bạn tù phá khám thoát ra. Ra tù, ông tiếp tục hoạt động ở Chi bộ Mỹ Ngãi - Phong Mỹ. Tháng 4/1945, ông được Chi bộ cử làm đại biểu dự Hội nghị Liên Tỉnh uỷ Long Xuyên - Sa ...

Trần Thị Nhượng (hay Trần Thị Ngài, thường gọi Sáu Ngài)

          Bà Trần Thị Nhượng (tên gia đình là Trần Thị Ngài, thường gọi Sáu Ngài), sinh ngày 15 tháng 3 năm 1896 tại làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay là phường 2, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp). Cha mẹ và 6 anh em làm thợ thủ công hoặc buôn bán nhỏ.         Năm 15 - 16 tuổi, bà vừa nuôi heo vừa học chữ tại nhà. Sau đó, lên Sài Gòn học lấy được bằng Certificat, rồi trở về làng Hòa An, Cao Lãnh dạy học. Lúc này, cả tỉnh Sa Đéc chỉ có 3 giáo viên nữ. Bà chuyển xuống dạy ở Tân Dương, Cái Tàu Hạ, rồi trở về dạy ở trường làng Hòa An. Năm 1916, bà lên Sài Gòn học thêm tiếng Pháp. Một năm sau, bà lại về trường Hòa An tiếp tục dạy học.         Bà được thầy giáo Sa, thầy giáo Cảnh tuyên truyền giác ngộ cách mạng. Ngày 15/6/1928, bà được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1929, bà được kết nạp vào An Nam Cộng sản Đảng, năm 1930 làm Bí thư Chi bộ liên xã.         Tháng 12/1930,...

Nguyễn Quang Diêu tự là Tử Ngọc, hiệu là Cảnh Sơn (hay Nam Sơn)

          Ông Nguyễn Quang Diêu sinh năm Canh Thìn (1880), tự là Tử Ngọc, hiệu là Cảnh Sơn (hay Nam Sơn), người làng Tân Thuận, tổng An Tịnh, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay là xã Tân Thuận Tây, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp).         Ông nội và cha ông là những người có tiếng về Nho học, nên ngay từ thuở nhỏ ông được chăm sóc giáo dục chu đáo. Năm lên 6 tuổi ông học chữ Nho, năm 10 tuổi học chữ Quốc ngữ. Năm 15 tuổi, ông lại học chữ Nho với cụ Tú Tịnh, sau đó đến Phú Thuận (Châu Đốc, nay thuộc Hồng Ngự - Đồng Tháp) tiếp tục học với cụ Tú Trần Hữu Thường, một nhà Nho yêu nước. Chính cụ Tú Thường là người làm cho Nguyễn Quang Diêu sớm thấy được cái nhục mất nước. Do đó, mặc dù tuổi nhỏ lại đang phải học hành, nhưng ông vẫn thường xuyên theo dõi tình hình phong trào yêu nước kháng Pháp trong cả nước. Năm 1907, ông tham gia phong trào Đông Du với tư cách cổ động viên, vận động thanh niên sang Nhật du học, quyên góp ủng hộ phong trào. Ô...